Khái quát về Hiệp định AANZFTA

Khái quát về Hiệp định AANZFTA

66
0
SHARE

Thực hiện quyết định của Hội nghị Cấp cao ASEAN-Úc-Niu Di Lân tổ chức tại Lào năm 2005, Việt Nam đã cùng các nước ASEAN, Úc, Niu Di Lân khởi động đàm phán Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-Úc-Niu Di Lân (AANZFTA). Đây là Hiệp định toàn diện với mục tiêu tăng cường liên kết sâu rộng giữa hai khu vực thông qua các biện pháp xoá bỏ các loại rào cản thuế quan, tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư và các chương trình hợp tác kinh tế, hỗ trợ kỹ thuật.

Trải qua mười lăm phiên đàm phán chính thức và một số phiên đàm phán không chính thức, tháng 8/2008, Hội nghị Tham vấn của các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Úc, Niu Di Lân đã chính thức tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định AANZFTA. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 vào tháng 02/2009 ở Thái Lan, ASEAN và Úc, Niu Di Lân đã ký kết Hiệp định. Hiệp định AANZFTA có hiệu lực từ ngày 01/01/2010.

Các mục tiêu của Hiệp định AANZFTA: (i) Từng bước tự do hoá và tạo thuận lợi cho thương mại hàng hoá giữa các bên thông qua, nhưng không hạn chế xoá bỏ dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong hầu hết thương mại hàng hoá giữa các bên; (ii) Từng bước tự do hoá thương mại dịch vụ giữa các bên, với phạm vi ngành đáng kể; (iii) Tạo thuận lợi, thúc đẩy và tăng cường cơ hội đầu tư giữa các bên thông qua việc phát triển hơn nữa môi trường đầu tư thuận lợi; (iv) Thành lập một khuôn khổ hợp tác nhằm tăng cường, đa dạng hoá và đẩy mạnh quan hệ thương mại, đầu tư và kinh tế giữa các bên; (v) Dành đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các quốc gia thành viên ASEAN, đặc biệt là đối với các quốc gia thành viên mới, để tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế hiệu quả hơn nữa.

Hiệp định AANZFTA được xây dựng dựa trên chuẩn mực của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là hiệp định FTA+, tức là rộng hơn cam kết về hàng hóa bao gồm những cam kết về lộ trình cắt giảm thuế, quy tắc xuất xứ, hạn ngạch, các biện pháp phi thuế…  mà còn đề cập tới các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư, sẽ mở cửa cho các bên tham gia và không chỉ có hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư được tự do di chuyển mà một số loại lao động có tay nghề cũng có cơ hội hơn qua cam kết về di chuyển thể nhân, các thỏa thuận riêng biệt trong nhiều lĩnh vực như dịch vụ tài chính, viễn thông, giải quyết tranh chấp. Với mục tiêu là từng bước thiết lập một khu vực thương mại tự do, một thị trường thông thoáng. Điểm cần nhấn mạnh của Hiệp định này là ở chỗ nó cho phép các bên cam kết thiết lập cơ chế hợp tác chặt chẽ nhằm đảm bảo các biện pháp phi thuế như cơ chế cấp phép, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm để không tạo thành những rào cản thương mại không cần thiết trong khu vực.

Tính đến thời điểm này, AANZFTA là hiệp định thương mại tự do toàn diện nhất của ASEAN ký với các đối tác đối thoại và cũng là hiệp định phức tạp nhất xét theo các quy định kinh tế [40, tr.1]. Thực tế, Hiệp định AANZFTA quy định tất cả các khía cạnh quan trọng nhất của quan hệ kinh tế quốc tế, đi xa hơn các Hiệp định WTO, cũng như là hầu hết các hiệp định thương mại tự do (FTA) của Úc và Niu Di Lân. Trên thực tế, FTA này không chỉ bao gồm nội dung về thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ mà còn bao gồm quy định về nguồn gốc xuất xứ, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch (SPS), rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT), thương mại điện tử, di chuyển thể nhân, đầu tư và các thủ tục đánh giá tiêu chuẩn, thủ tục hải quan, tự vệ, giải quyết tranh chấp, cạnh tranh và quyền sở hữu trí tuệ cùng với một số cam kết về hợp tác kinh tế. AANZFTA là hiệp định tự do thương mại toàn diện đầu tiên mà ASEAN ký với một đối tác đối thoại. Đây cũng là hiệp định duy nhất có các cam kết ở cả 3 lĩnh vực – hàng hóa, dịch vụ và đầu tư.

Hiệp định gồm có 18 chương với 4 phụ lục về lộ trình cắt giảm thuế quan, quy tắc xuất xứ, cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, cam kết di chuyển thể nhân. Cơ cấu của Hiệp định như sau: Chương 1 – Thành lập khu vực thương mại tự do, các mục tiêu và định nghĩa chung; Chương 2 – Thương mại hàng hóa; Chương 3 – Quy tắc xuất xứ hàng hóa; Chương 4 – Thủ tục hải quan; Chương 5 – Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch; Chương 6 – Tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp; Chương 7 – Các biện pháp tự vệ; Chương 8 – Thương mại dịch vụ; Chương 9 – Di chuyển thể nhân; Chương 10 – Thương mại điện tử; Chương 11 – Đầu tư; Chương 12 – Hợp tác kinh tế; Chương 13 – Sở hữu trí tuệ; Chương 14 – Cạnh tranh; Chương 15 – Các quy định và ngoại lệ chung; Chương 16 – Thể chế; Chương 17 – Tham vấn và giải quyết tranh chấp; Chương 18 – Các quy định cuối cùng.

Về thương mại hàng hóa, Hiệp định AANZFTA chia lộ trình cắt giảm thuế quan thành 3 nhóm nước theo cấp độ giảm thuế từ nhanh đến chậm, Nhóm 1: Úc và Niu Di Lân, Nhóm 2: ASEAN-6 (Xin-ga-po, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-li-pin, Bru-nây), Nhóm 3: CLMV (bốn nước Campuchia, Lào, My-an-ma và Việt Nam). Danh mục giảm thuế gồm: Danh mục thông thường (NT) với các dòng thuế được cắt giảm xuống 0% trong 10 năm, chiếm 90% tổng số dòng thuế, còn lại là Danh mục nhạy cảm (ST) (chiếm 10% số dòng thuế), trong đó 6% thuộc danh mục nhạy cảm thường (ST1) và 4% thuộc danh mục nhạy cảm cao (ST2). Trong số 4% số dòng thuế thuộc ST2 có 1% được loại trừ khỏi nghĩa vụ cắt giảm/xoá bỏ thuế quan. Trên thực tế, các nước Úc, Niu Di Lân và ASEAN-6 đã cam kết số dòng thuế thuộc danh mục NT lớn hơn mức 90% (96-98%).

Lộ trình cắt giảm thuế theo cam kết trong Hiệp định AANZFTA

Nước 2005 Thuế cơ sở (%) 2010

(%)

2013

(%)

Tổng số dòng thuế cắt giảm Năm hoàn thành cắt giảm thuế
Úc 47,6 96,4 96,5 100,0 2020
Bru-nây 68,0 75,7 90,0 98,9 2020
My-an-ma 3,7 3,6 3,6 85,2 2024
Cam-pu-chia 4,7 4,7 4,7 88,0 2024
In-đô-nê-xi-a 21,2 58,0 85,0 93,2 2025
Lào 0,0 0,0 0,0 88,0 2023
Ma-lai-xi-a 57,7 67,7 90,9 96,3 2020
Niu Di Lân 58,6 84,7 90,3 100,0 2020
Phi-li-pin 3,9 60,3 91,0 94,6 2020
Xin-ga-po 99,9 100,0 100,0 100,0 2009
Thái Lan 7,1 73,0 87,2 99,0 2020
Việt Nam 29,3 29,0 29,0 89,8 2020
Nguồn: Australia Government, Department of Foreign Affairs and Trade (2010), ASEAN-Australia-NewZealand Free Trade Agreement, Revised 17 August 2010.

Quy tắc xuất xứ, theo Hiệp định AANZFTA quy tắc xuất xứ bao gồm các tiêu chí về xuất xứ thuần túy, hàm lượng giá trị khu vực 40%, tiêu chí chuyển đổi nhóm và tiêu chí các mặt hàng cụ thể.

Thủ tục hải quan, Hiệp định AANZFTA tạo thuận lợi thương mại thông qua đẩy mạnh hợp tác, đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan, trong đó đặc biệt quan tâm đến thực hiện cơ chế hải quan một cửa, sử dụng công nghệ điện tử trong thông quan và phân loại hàng hóa trước khi cập cảng.

Quy định về kiểm dịch động thực vật, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp được quy định tại Chương 5 và Chương 6 với các quy định chủ yếu về nâng cao tính minh bạch, khuyến khích trao đổi trong việc áp dụng các thủ tục và quy định liên quan cũng như tăng cường hợp tác giữa các cơ quan kiểm dịch động thực vật của các bên. AANZFTA ưu tiên áp dụng tham vấn khi có phát sinh tranh chấp liên quan thay vì sử dụng các chế tài, quy định này phù hợp với quy định của WTO.

Quy định về các biện pháp tự vệ (Chương 7), theo đó một bên có quyền áp dụng biện pháp tự vệ trong giai đoạn chuyển tiếp nếu lượng nhập khẩu một hàng hóa tăng lên đột biến do thực hiện cam kết của AANZFTA, hậu quả của sự tăng đột biến hàng hóa này đã đe dọa hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nội địa sản xuất hàng hóa tương tự. Điều kiện để được áp dụng các biện pháp tự vệ: nhập khẩu từ một bên vượt quá 3% tổng nhập khẩu từ các bên khác và trong trường hợp tổng nhập khẩu từ nhiều nước vượt quá 9% tổng nhập khẩu từ các bên khác sẽ có lợi cho các nước có năng lực xuất khẩu nhỏ.

Chương về đầu tư bao gồm các quy định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc… đặc biệt là quy định của nguyên tắc dành đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước thành viên mới của ASEAN (nhóm các nước CLMV). Theo đó các bên sẽ dành đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước này thông qua hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp thông tin cho nhà đầu tư của CLMV… và cho phép các nước này đưa ra cam kết phù hợp với mức độ phát triển của họ.

ASEAN, Úc và Niu Di Lân cam kết từng bước tự do hóa thuế quan kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ ít nhất 90% thuế suất của tất cả các dòng thuế trong khung thời gian cụ thể. Đối với thương mại dịch vụ, các bên thống nhất sẽ từng bước tự do hóa các rào cản thương mại dịch vụ và cho phép nhà cung cấp dịch vụ tiếp cận thị trường thuận lợi hơn. Đặc biệt, đây là hiệp định với đối tác đối thoại đầu tiên mà ASEAN cam kết tạo thuận lợi cho việc di chuyển của các thể nhân tham gia các hoạt động thương mại và đầu tư trong khu vực. Hiệp định này cũng đưa ra các quy định tiến bộ như đối xử trong đầu tư, đền bù cho người thiệt hại, chuyển giao lợi nhuận và vốn, và chuyển giao quyền hoặc yêu cầu đầu tư. Một nội dung quan trọng mà ASEAN thống nhất được với Úc và Niu Di Lân là tạo thuận lợi cho dòng luân chuyển hàng hóa thông qua việc áp dụng các điều khoản cụ thể về quy tắc xuất xứ, thủ tục hải quan, các biện pháp SPS, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá hợp chuẩn. Đây là cam kết rất có ý nghĩa vì Úc và Niu Di Lân nằm trong số các quốc gia có yêu cầu về SPS và tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ nhất trên thế giới.

Theo đánh giá chung, Hiệp định AANZFTA sẽ đem lại các lợi ích chính cho ASEAN, Úc và Niu Di Lân như mở cửa thị trường sâu rộng hơn cho các nhà xuất khẩu/sản xuất trong khu vực, thúc đẩy cắt giảm chi phí sản xuất, tạo cơ hội mở rộng mạng lưới công việc và tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong khu vực [26]. Hiệp định sẽ giúp tạo lập môi trường kinh doanh bền vững, minh bạch và có thể dự đoán được, thông qua đó thúc đẩy hoạt động hợp tác kinh tế của các bên, các doanh nghiệp. Hiệp định sẽ mở ra cơ hội phát triển hơn nữa quan hệ thương mại song phương Việt – Úc cũng như Việt Nam – Niu Di Lân. Theo các chuyên gia kinh tế, đối với Úc, các doanh nghiệp của ta sẽ thu được nhiều lợi ích nhất trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may, bột giấy, nông sản. Đối với Niu Di Lân, lợi ích xuất khẩu chính của ta sẽ là hàng dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, máy móc, thiết bị và phụ tùng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp, người tiêu dùng Việt Nam sẽ được tiếp cận máy móc, nguyên vật liệu và hàng hóa chất lượng cao, công nghệ tiên tiến nhập khẩu từ hai nước với giá cả hợp lý hơn.

Thực thi Hiệp định AANZFTA sẽ giúp cho Việt Nam nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược với Úc và Niu Di Lân. Hơn 90% các dòng thuế của Úc và Niu Di Lân được cắt giảm giúp cho hàng xuất khẩu nước ta thâm nhập thị trường hai nước này thuận lợi hơn. Xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 70% GDP, việc thực hiện cam kết của các nước tham gia Hiệp định sẽ giúp doanh nghiệp nước ta đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản thực phẩm, hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, đồ gỗ… Những doanh nghiệp này sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ việc cắt giảm thuế quan. Việc công nhận kinh tế thị trường đầy đủ góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam với Úc và Niu Di Lân, hỗ trợ trong giải quyết tranh chấp, điều tra chống bán phá giá, doanh nghiệp Việt Nam được hưởng quy trình xem xét bình đẳng như doanh nghiệp của các nước khác.

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY