Đặc điểm liên kết thương mại toàn cầu trong thời gian tới

Đặc điểm liên kết thương mại toàn cầu trong thời gian tới

204
0
SHARE

Theo nhận định của BMI (Business Monitor Institution), đặc điểm chính của kinh tế toàn cầu trong giai đoạn tới, bao gồm:

  • Tăng trưởng thương mại vẫn tiếp tục yếu, ít có cơ hội cho những thương vụ thương mại mới.
  • Năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế chậm lại, lạm phát sẽ cao hơn tại các quốc gia phát triển. Tăng trưởng kinh tế ở khu vực thị trường mới nổi sẽ yếu ớt hơn do mô hình phát triển định hướng xuất khẩu gặp trở ngại lớn từ đó dẫn đến bất ổn chính trị có chiều hướng gia tăng.
  • Các tập đoàn đa quốc gia sẽ có khuynh hướng làm chậm quá trình toàn cầu hóa chuỗi cung ứng và quay sang chú trọng hơn đến thị trường nội địa.
  • Khi xu thế toàn cầu hóa bị chững lại thì xu thế thế giới đa cực lại có điều kiện thuận lợi để phát triển trong đó vai trò, ảnh hưởng của Nga và Trung Quốc ở khu vực sẽ ngày càng lớn mạnh hơn.
  • Mặc dù các thỏa thuận về biến đổi khí hậu toàn cầu đã đạt được những tiến bộ nhất định nhưng nhiều khả năng sẽ bị mất đà và quay trở lại với những thỏa thuận song phương hoặc thoả thuận khu vực.

Với những đặc điểm trên, BMI nhận định toàn cầu hóa sẽ ít thay đổi trong thập kỷ tới và chỉ có một điểm khác biệt là lực lượng dân túy tiếp tục tăng lên ở các nước phát triển. Dưới đây là 3 kịch bản tiềm năng có thể xảy ra với toàn cầu hóa và những tác động tương ứng của mỗi kịch bản đối với kinh tế, chính trị và ngành công nghiệp.

Kịch bản 1: Toàn cầu hoá sẽ đảo chiều hoàn toàn

Trong kịch bản này, toàn cầu hóa sẽ bị đảo ngược hoàn toàn khi các lực lượng dân túy trở nên quyền lực hơn tại hầu hết các nền kinh tế lớn. Các thỏa thuận thương mại tự do sẽ bị thay đổi hoàn toàn, các quy định về du lịch và nhập cư bị siết chặt và các tổ chức toàn cầu tách rời khỏi liên kết khu vực. Trong tình trạng căng thẳng quốc tế như vậy, chỉ cần một sự đột biến thông thường cũng có khả năng làm tăng nguy cơ xung đột quyền lực.

 Hành động có thể xảy ra:

 Sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ trong nước, Tổng thống Trump và Quốc hội đưa Mỹ ra khỏi các thỏa thuận thương mại hiện tại, trong khi không còn kết nối chặt chẽ với quan hệ đồng minh quân sự truyền thống.

  • Tại châu Âu, một cuộc khủng hoảng kinh tế trong tương lai sẽ phá vỡ khu vực đồng tiền chung châu Âu. Một số quốc gia quyết định rút khỏi khu vực này. Ngay cả Đức cũng đưa ra quyết định rằng “Dự án châu Âu” sẽ chấm dứt và hành động một cách đơn phương hơn.
  • Tại châu Á, sự cạnh tranh quyết liệt về địa chính trị giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Mỹ và Nhật Bản đe dọa chia rẽ châu Á thành nhiều phe phái. Bất cứ nỗ lực nào của Mỹ nhằm áp đặt trừng phạt Trung Quốc trong bối cảnh xung đột trong tương lai cũng sẽ chấm dứt sự toàn cầu hóa.
  • Sau khi chứng kiến sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ tại Mỹ và châu Âu, Chính phủ Trung Quốc, Ấn Độ và các thị trường mới nổi khác cũng áp dụng các biện pháp tương tự. Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga ngày càng phẫn nộ việc phương Tây từ chối cho các quốc gia này có tiếng nói lớn hơn tại các tổ chức quốc tế, làm cho các quốc gia này nỗ lực để thành lập hoặc củng cố các tổ chức khu vực mà họ có khả năng chiếm ưu thế.
  • Một cuộc tấn công khủng bố quy mô vào một thành phố lớn tương tự hoặc lớn hơn cả vụ khủng bố ngày 9/11 (và có thể liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt) làm cho các qui định về du lịch và vận chuyển hàng hóa quốc tế trở nên khó khăn hơn rất nhiều, cản trở nghiêm trọng đến sự di chuyển của con người và hàng hóa quốc tế.
  • Một cuộc tấn công mạng có quy mô (hoặc các trường hợp thường xuyên tấn công mạng nghiêm trọng) sẽ phá vỡ hệ thống điện và truyền thông trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng.
  • Một cuộc xung đột hay thảm họa tự nhiên lớn tại một quốc gia đông dân sẽ dẫn đến một làn sóng người tị nạn di chuyển sang các nước phương Tây và các nền kinh tế khác, dẫn đến sự phản ứng dữ dội mà đòi hỏi phải kiểm soát biên giới chặt chẽ hơn nữa.

Tác động về chính trị:

 Việc chuyển sang một thế giới đa cực hơn đưa đến kết quả là “khu vực hóa” rộng lớn, do Trung Quốc sẽ thống trị Châu Á, Nga sẽ thống trị khu vực Á-Âu và Brazil sẽ thống trị các nước Mỹ Latin. Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trong các khu vực này sẽ chấp nhận bị lãnh đạo và họ sẽ tìm cách chống lại nó.

  • Các tổ chức tài chính quốc tế như là Quỹ tiền Tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới sẽ trở nên dư thừa, do các tổ chức khu vực hoặc thậm chí là các tổ chức ở tiểu vùng sẽ đặt ra các mục tiêu cao hơn.
  • Tại châu Âu, các nước EU có thể phân chia vào các khối tiểu vùng, lấy Đức là trung tâm, chia vùng Scandinavia, Nam Âu – Địa Trung Hải, Trung và Đông Âu. Nga sẽ tận dụng lợi thế trong việc phân chia châu Âu để tạo ảnh hưởng của mình. Trong khi đó, Mỹ có thể từ bỏ NATO, gây sự sụp đổ của khối liên minh này.
  • Mỹ sẽ ít quan tâm đến việc duy trì an ninh quốc tế do vậy dẫn đến việc các quốc gia phi hạt nhân như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả-rập-xê-út và một số quốc gia khác sẽ tự phát triển vũ khí hạt nhân cho riêng mình, do đó dẫn đến cuộc chạy đua trong khu vực.
  • Những nỗ lực quốc tế để giảm thiểu những các tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu cũng sẽ bị lung lay. Một quan điểm dân tộc về chính sách đối ngoại thậm chí sẽ đe dọa thay đổi hoàn toàn các thỏa thuận đã ký.
  • Các rủi ro chính trị sẽ gia tăng ở các thị trường mới nổi do tăng trưởng kinh tế yếu kém và tình trạng thất nghiệp tăng cao. Trong đó, ngành công nghiệp sản xuất định hướng xuất khẩu tại các thị trường mới nổi sẽ bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ. Thu nhập đình trệ sẽ gây ra những rủi ro mất ổn định trầm trọng hơn đối với các nước xuất khẩu mới nổi như là Bang-la-det, Ethiopia, Myanmar, Pakistan và Phi-lip-pin.

Châu Á: Sự sắp xếp địa chính trị và các điểm nóng

Tác động về kinh tế:

 Thương mại: tăng trưởng thương mại toàn cầu sẽ vẫn còn yếu và không có thêm các thỏa thuận thương mại khu vực lớn nào nữa được ký kết. Các thỏa thuận đang tồn tại bao gồm cả NAFTA có thể phải đàm phán lại. Cải cách kinh tế nội địa sẽ tập trung ít hơn vào các mục tiêu chính trong việc đạt được “năng lực cạnh tranh quốc tế”, đây là mục tiêu hàng đầu trong suốt những năm 1980. Thay vào đó, mục tiêu chính sẽ tập trung chủ yếu vào việc bảo vệ ngành công nghiệp trong nước trước sự cạnh tranh từ nước ngoài.

  • Các nước phụ thuộc xuất khẩu: các nền kinh tế có thặng dư tài khoản vãng lai lớn sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn do mô hình xuất khẩu sản xuất của họ bị hủy hoại. Các nhà xuất khẩu nguyên liệu thô có thể ít bị ảnh hưởng hơn các nhà xuất khẩu hàng hóa gia công.
  • Các thị trường mới nổi: các thị trường mới nổi sẽ cần phải xem xét lại các kế hoạch phát triển kinh tế. Các trung tâm sản xuất mới thành lập tại nhiều quốc gia bao gồm Băng-la-det, Ethiopia và Việt Nam sẽ phải đối mặt với những rào cản lớn hơn để thâm nhập thị trường xuất khẩu của họ.
  • Lạm phát: một số yếu tố sẽ thúc đẩy lạm phát toàn cầu. Đầu tiên, sự hạn chế trong việc di chuyển lao động tự do sẽ làm tăng chi phí tại các thị trường phát triển. Thứ hai, các rào cản thương mại sẽ làm giảm dòng chảy của việc sản xuất chi phí thấp để xuất khẩu từ các thị trường mới nổi. Thứ ba, sự sụp đổ của quá trình toàn cầu hóa sẽ làm các nước chú trọng nhiều hơn đến việc tối đa hóa sự độc lập năng lượng và an ninh lương thực.
  • Hiệu suất kinh tế: hiệu suất tăng trưởng kinh tế sẽ kém hơn do chuỗi cung ứng toàn cầu trở nên co cụm, địa phương hoá, nhiều rào cản hơn trong việc thuê lao động nước ngoài và chi phí hàng hóa, nhân công tăng cao.

Tác động đối với nền công nghiệp:

 Chuỗi cung ứng: chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia sẽ cần tái cấu trúc đáng kể.

  • Lao động nhập cư: ngành công nghiệp dựa vào lao động nhập cư chi phí thấp sẽ không còn được hưởng lợi khi chi phí này tăng lên do các quốc gia thắt chặt và hạn chế nhập cư.
  • Than: việc trì hoãn các thỏa thuận về biến đổi khí hậu toàn cầu, kết hợp với việc tự cung cấp năng lượng ở mỗi quốc gia sẽ làm hồi sinh ngành công nghiệp than toàn cầu.
  • Quốc phòng: ngành công nghiệp quốc phòng có khả năng sẽ được hưởng lợi từ việc các nước sẽ tăng chi phí cho quân sự.

Kịch bản 2: Sự hồi sinh toàn cầu hoá:

Trong trường hợp này, lực lượng dân túy tại các nước phát triển đã cho thấy chính sách của họ không cải thiện được điều kiện kinh tế cho những người ủng hộ, do đó gây ra một phản ứng dữ dội. Có khả năng là các nhà lãnh đạo thế giới lo sợ một cuộc suy thoái toàn cầu, mà chỉ có thể giải quyết bằng cách tăng cường hợp tác từ việc xây dựng các tổ chức toàn cầu mới, có khả năng phản ánh tốt hơn sự phân bố của cải và năng lượng quốc tế so với hệ thống Bretton Woods và Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc.

Ngoài ra, sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ được hưởng lợi từ sự đổi mới công nghệ cao, và trở thành những quốc gia cung cấp các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ từ Bắc Mỹ, châu Âu, cũng như những nơi khác. Khi các công ty Trung Quốc và Ấn Độ di chuyển chuỗi giá trị, họ có xu hướng trở nên hướng ngoại hơn, giúp cải thiện sâu sắc mối quan hệ với các quốc gia Mỹ Latinh và châu Phi. Như vậy, toàn cầu hóa bước vào một kỷ nguyên mới, nhưng lần này bị chi phối nhiều hơn bởi châu Á so với của Mỹ/ phương Tây.

Hành động có thể xảy ra:

  • Lực lượng dân túy sẽ bị mất uy tín hoàn toàn.
  • Các nền kinh tế lớn trên thế giới sẽ cần được dẫn dắt bởi những nhà lãnh đạo có tri thức toàn cầu, ngược lại với những người chỉ tập trung chủ yếu vào lợi ích trong nước.
  • Một kịch bản như vậy sẽ chỉ có khả năng xuất hiện trong môi trường tăng trưởng kinh tế toàn cầu mạnh hơn.
  • Trung Quốc có lẽ sẽ cần phải đi đầu trong các giai đoạn tiếp theo của toàn cầu hóa, có thể đi kèm cả Ấn Độ. Trong trường hợp vắng mặt Trung Quốc, Mỹ sẽ cần phải đi đầu, khi châu Âu có thể là quá ‘yếu ớt’ để đi đầu.

Hệ quả:

  • Sự hồi sinh của toàn cầu hóa dưới sự lãnh đạo của Trung Quốc hay Ấn Độ cho thấy rằng quá trình này có thể có nhiều nét hoặc ảnh hưởng của ‘châu Á’ hơn.
  • Giai đoạn tiếp theo có thể phù hợp với Trung Quốc (hơn là với Ấn Độ), trở thành cường quốc trên thế giới.
  • Các tổ chức toàn cầu sẽ cần được cải tổ toàn diện để phản ánh sự nổi lên của Trung Quốc và các thị trường mới nổi. Mỹ sẽ chấp nhận điều này vì biết rằng việc cản trở sẽ chỉ thúc đẩy Trung Quốc thành lập các tổ chức cạnh tranh, trong đó Mỹ sẽ có rất ít ảnh hưởng.
  • Một tổ chức an ninh toàn cầu mới có thể phải được thiết lập, kết hợp với NATO, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia MENA và Mỹ La tinh.

Kịch bản 3: Quá trình toàn cầu hóa sẽ chậm lại

Dự báo xu trong thập kỷ tới quá trình toàn cầu hóa sẽ bị chững lại, ở trạng thái đi ngang hoặc thậm chí có thể suy giảm. Về cơ bản thì kịch bản này cũng khá tương tự như kịch bản 1 và 2. Điểm đáng lưu ý của kịch bản này là quá trình toàn cầu hóa sẽ diễn ra rất chậm chạp, thậm chí có thể suy giảm do các nhà hoạch định chính sách cho rằng xét về mặt chính trị thì chưa thực sự cần thiết phải tiếp tục tạo áp lực để đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa. Tuy vậy theo kịch bản này thì tình hình có thể không đến nỗi nặng nề như kịch bản 1.

Các đảng phái theo chủ nghĩa dân túy đã giành được thắng lợi nhất định tại các quốc gia phát triển, buộc Chính phủ cầm quyền tại các nước này phải xem xét lại các thỏa thuận tự do thương mại và thắt chặt chính sách nhập cư. Các chính sách này sẽ tạo ra làn sóng cho việc áp dụng các biện pháp bảo hộ giữa các cường quốc kinh tế, nghĩa là các biện pháp bảo hộ được khởi xướng kể từ năm 2011 sẽ có cơ hội nhận được nhiều hơn sự ủng hộ so với trước đây. Chính phủ các nước lớn sẽ theo đuổi chính sách thực dụng hơn để một mặt cố gắng hợp tác nhằm đảm bảo giữ được đa số các thỏa thuận quốc tế đã ký nhưng cũng sẽ đàm phán lại nếu buộc phải chấm dứt, hủy bỏ các hiệp định, thỏa thuận đã ký.

Mức độ của kịch bản này là nhẹ hơn so với kịch bản 1, không có suy giảm mạnh nhưng cũng không có xu hướng phục hồi trở lại rõ nét. Thương mại và tăng trưởng kinh tế toàn cầu tiếp tục yếu nhưng vẫn có những nét tích cực nhất định. Tuy nhiên, thế cân bằng này có thể không ổn định do hiện đang có sự tranh giành quyền lực, tạo ảnh hưởng giữa những người ủng hộ và lực lượng chống toàn cầu hóa tại các quốc gia phát triển cũng như giữa các nước này với nhau. Vì vậy sẽ có nhiều khả năng có những biến động chính trị. Thế cân bằng không ổn định sẽ dẫn đến một hệ thống toàn cầu hoặc là “Phi toàn cầu hóa – De-globalise” hoặc “Tái toàn cầu hóa – Re-globalise” tùy thuộc việc đảng phái chính trị nào sẽ thắng thế.

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY